Phụng sự Thầy ra sao đúng Chánh Pháp?
— o0o —
Pram Nguyen soạn
14/2/2020
Soạn ra giúp các bạn trẻ còn phân vân không biết nên cung xử ra sao với các bậc Thầy của Phật-Giáo (không nhất thiết là hàng xuất gia) hay các hàng chân Thiện Tri Thức.
——————————–
Phần 1:
Phụng-sự Thầy/bậc chân Sư hay bậc chân Đại Thiện-Tri-Thức đúng pháp, xã bỏ thân mạng và tài sản, tùy thuận không chống trái, không tỏ ra khinh miệt, vì sao?
– Vì Thân, Khẩu và Ý của chư vị thật khó nghĩ bàn; do đó, Vô-thượng Bồ-Đề còn có ngày thành-tựu, huống chi quả-báo thù-thắng do lòng tín-thuận tu-hành chiêu-cảm!
Có nhiều người tu tinh-tấn vài ba năm, rồi nghĩ mình có phước, liền khởi tâm mong cầu. Vì mong cầu mà vô-trí nên liền bị Quỷ Thần ám nhậm tâm can, ban cho những mong cầu; lần hồi bỏ tu, phản Thầy!
Vì sao nói họ vô-trí? – Vì họ đem nhục-thân tu-tập mà quên hẳn rằng khi còn trong thai, họ đã mang theo Nghiệp-người (Biệt-nghiệp): giàu hèn, sang trọng, quí tiện, thông-minh hay ngu đần, v.v… thảy thảy đều đã định sẵn, đó là số-phận.
Tuy nhiên, chỉ tùy duyên, vận, thời có đủ hay không, xã hội (hay Cộng-nghiệp) tốt xấu mà giàu có hơn hay sang quí hơn, một thời gian rồi sẽ lụn bại, suy tàn, hoặc con cháu đời thứ hai phá tán…. Mang thân tù tội.
Những đứa con lũ cháu cũng có Biệt-nghiệp mà nhập thai:
1) Số nó giàu muốn nó nghèo cũng không được!
2) Số nó vinh-hiển, uy quyền hách-dịch muốn nó lụn bại cũng không xong.
Ôi! Biển nghiệp mênh-mông, khó suy khó lường!
Kinh Hoa-Nghiêm có kệ,
Do phước-duyên thuở trước
Văn-Thù khiến phát tâm
Tùy thuận không trái nghịch
Tu-hành chẳng mỏi nhọc.
Cha mẹ cùng thân thuộc
Cung-điện và tài sản
Tất-cả đều bỏ lìa
Khiêm hạ cầu [Thiện-] Tri-Thức.
Tịnh trị ý như vậy
Rời hẳn thân thế-gian
THƯỜNG SANH CÕI NƯỚC PHẬT
Hưởng quả báo thù thắng.
Không thể tịnh-trị Ý-nghiệp thì Tâm Bồ-Đề bị Thân-kiến và Ngã-chấp (ta và cái của ta) che khuất, các nghiệp lành chỉ là Ma-nghiệp.
Vì sao nói như vậy? – Người mà Thân-kiến và Ngã-chấp còn nặng thì tu Thiền, hay bố thí, v.v… CẢM THỌ thân ngũ Uẩn, thất Thức trong loài Rồng Quỷ hay cao lắm là Ma Thiên.
Làm sao biết họ còn vướng hai thứ nầy?
1) Hãy dùng lời hằn hộc, lời tổn thương cái ta của họ, lời không thuận lỗ tai của họ, lời không có lợi cho họ và gia đình họ, thì sẽ thấy họ phản-ứng tiêu-cực ngay. Lắm kẻ còn tỏ thái-độ cộc cằn, giận tức với mình liền một khi!
2) Trái lại, hãy nói lời tốt đẹp để tâng bốc cái ta của họ, khi bản thân họ không xứng nhận những lời nầy, tức là dẻo mồm đĩ-miệng, thì sẽ thấy họ vui vẽ và có thiện-cảm với mình lập-tức.
Trong thời đức Phật còn tại thế (563 TCN – 483 TCN) việc tìm kiếm một bậc Đạo-Sư (Guru), hay Thiện-Tri-Thức (Kalyanamitra) dạy mình tu học đóng một vai trò cực-kỳ quan-trọng.
Tuy nhiên, ngay cả các Thánh-giả quen thuộc như Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Tu-Bồ-Đề, v.v… còn chưa được đức Phật liệt vào hàng Thiện-Tri-Thức. Lý do là tại sao? – Đó là vì chư vị chỉ biết tự tu, tự lợi, không hề phát ra hạnh nguyện quảng đại nào. Ngay cả, nguyện cho tất cả chúng-sanh đồng chứng quả A-La-Hán cũng tắt rụi!
Chính vì có các bậc Thiện-Tri-Thức thường hằng qua lại nơi thế-gian, đời nào mà chẳng có, nhưng người kém trí, thiểu huệ, căn lành mỏng ắt không thấy, không gặp, không thể gần-gũi, phụng-thờ, kính vâng, tùy thuận theo ý chư vị mà tiến tu không nhàm mỏi. Chính điều nầy đã làm cho việc học Phật lớn mạnh, và vô-số người tu chứng quả đắc Đạo.
Sau khi đức Phật nhập Bất-Động Tam-Muội (Kinh Hoa-Nghiêm) thị-hiện thần-biến, toái-thân lưu xá-lợi, thì 500 năm sau ngài Mã-Minh đã tạo ra Bộ Luận về bậc chân Sư gọi là Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng (Gurupañcāśikā) hay 50 Bài Kệ Về Bậc Đạo-Sư (Pram Nguyễn dịch và chú–giải rộng) để người tu tìm một bậc chân Sư như thế nào và phụng-sự ra sao.
Nói đến chứng và đắc thì có lắm người sẽ tấn-công ngu nầy, cho là “còn chấp có tu, có chứng, có đắc!”
Chư Phật, Bồ-Tát ơi! Bọn cuồng-huệ, tăng thượng mạn nầy, ỷ lại nơi mình có chút hiểu biết về Thiền, CHUYÊN CƯỚP LỜI ĐOẠT Ý để chứng-minh rằng bọn chúng hay, chúng giỏi và chúng không hề chấp-trước! Trong khi, thân-kiến và ngã-chấp của chúng dầy đặc như mây mù vào những ngày lạnh ở vùng cao, loạn bước hít vào hơi độc mà dám lên mặt dạy người từng trải!
Kinh Đại Bảo-Tích, Pháp-hội Thiện-Đức Thiên-Tử viết:
(…)
– Nầy Văn-Thù-Sư-Lợi! Ông chứng Thánh-pháp hay chẳng chứng?
– Bạch đức Thế-Tôn! Nếu hỏi hóa-nhơn rằng ông chứng Thánh-pháp hay chẳng chứng thì nó sẽ đáp thế nào?
– Nầy Văn-Thù-Sư-Lợi! Xét về hóa-nhơn thì không thể nói chứng hay không chứng.
– Bạch đức Thế-Tôn! Đức Phật há chẳng đã dạy rằng tất cả pháp đều như hóa ư?
– Nầy Văn-Thù-Sư-Lợi! Đúng như vậy.
– Bạch đức Thế-Tôn! Nếu tất cả pháp như hóa, sao lại hỏi rằng ông chứng Thánh-pháp hay chẳng chứng?
– Nầy Văn-Thù-Sư-Lợi! Trong tam thừa ông chứng bình-đẳng nào?
– Bạch đức Thế-Tôn! Phật giới bình-đẳng, tôi chứng như vậy.
– Nầy Văn-Thù-Sư-Lợi! Ông được cảnh-giới Phật ư?
– Bạch đức Thế-Tôn! Nếu Thế-Tôn được thì tôi được”.
Tôn-giả Tu-Bồ-Đề hỏi Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ Tát: “Đức Như-Lai chẳng được cảnh-giới Phật ư?”.
Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ Tát nói: “Tôn giả ở nơi cảnh-giới Thanh Văn có được chăng?”.
Tôn-giả Tu-Bồ-Đề nói: “Thánh-giả! Giải-thoát phi-đắc phi-bất-đắc”.
[không đắc, không phải chẳng đắc, tức đắc mà không chấp vào pháp mình tu để chứng đắc, rồi cho đó là cảnh-giới mình đắc, nên ngài Văn-Thù-Sư-Lợi xác–minh liền.]Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ Tát nói: “Đúng như vậy. Như-Lai giải thoát chẳng phải có cảnh-giới chẳng phải không cảnh giới”.
— # —
https://www.facebook.com/pram.nguyen.7/posts/115610146686562
Phần 2:
Vậy dựa vào tiêu-chuẩn nào để tìm Thiện-Tri-Thức đúng nghĩa mà đức Phật và chư Bồ-Tát thường nhắc đến trong các Kinh-văn Đại-Thừa?
– Nếu gặp được thì phải:
1) gần-gũi,
2) cung-kính,
3) phụng thờ,
4) tuân hành giáo-pháp,
5) không chống trái.
Người có nhiều năm học Kinh-văn Đại-Thừa dưới sự chỉ dạy của bậc Đa-văn thông-tuệ, tự mình tư-duy, nghiên-cứu ắt sẽ biết. Vì sao không nói nghiên cứu Kinh A-Hàm hay 5 Nikaya tức là Kinh-văn của hàng xuất-gia và thuộc tự tu tự lợi, ắt chỉ thấy 1 đoạn Kinh-văn ngắn trong Tạp A-Hàm nói về Thiện-Tri-Thức mà thôi.
KINH 726. THIỆN TRI THỨC[49]
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tinh xá Giáp cốc[50] thành Vương xá. Khi ấy Tôn giả A-nan cũng ở tại đó.
Bấy giờ, Tôn giả ở một mình nơi vắng, thiền tịnh tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh tức là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’Rồi Tôn giả từ thiền tịnh tỉnh giấc, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, Con ở một mình nơi vắng, thiền định tư duy và nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng’.”
Phật bảo A-nan:
“Chớ nghĩ như vầy: ‘Một nửa phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.’ Vì sao? Thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch[51], chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng. Vì Ta là thiện tri thức nên có chúng sanh ở nơi Ta mà tiếp nhận Niệm giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Cũng vậy, Trạch giác phần, Tinh tấn giác phần, Hỷ, Khinh an, Định và Xả giác phần, y viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Vì vậy cho nên, A-nan, thuần nhất mãn tịnh, phạm hạnh thanh bạch chính là thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng, chẳng phải là ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
_____________________
[49]. S. 45. 2 Upaḍḍha.
[50]. Giáp cốc tinh xá 夾谷精舍.
[51]. Pāli: sakalam evidaṃ brahmacariyaṃ yadidṃ kalyaṇāmittā kalyāṇasahāyatā, chính toàn bộ đời sống phạm hạnh này là thiện tri thức, thiện đồng hành…
—————————–
Còn Phụng-sự thì cũng chỉ có một Kinh-văn rất ngắn nói lược.
KINH 724. QUẢ BÁO PHỤNG SỰ[47]
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo trì giới, tu đức, có tàm quý, thành tựu pháp chân thật. Người nào thấy vị này, sẽ được nhiều quả báo. Hoặc lại nghe vị này, hoặc còn nhớ nghĩ đến, theo xuất gia, sẽ được nhiều công đức; huống chi là lại gần gũi, cung kính, phụng sự. Vì sao? Vì gần gũi, phụng sự người như vậy, thì lúc nào cũng sẽ được nghe pháp thâm diệu. Sau khi đã nghe pháp thâm diệu rồi, sẽ thành tựu hai việc chánh là thân chánh và tâm chánh, phương tiện tu tập Định giác phần. Sau khi đã tu tập rồi, sự tu tập sẽ đầy đủ… cho đến, Xả giác phần tu tập đầy đủ.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
_____________________
— # —
Nay ngu nầy chỉ lược nói vài Kinh để để người học chỗ nương tâm.
Vì sao phải làm như vậy? – Vì “Tin rằng mỗi mỗi chúng-sanh đều có đủ năng-lực lãnh-thọ giáo-pháp Như-Lai, bất cứ hữu-tình nào cũng có năng-lực hoàn-thành địa-vị Nhứt-thiết Chủng-Trí như chư Phật.” (Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)
TỊNH-ĐỘ TÔNG
______________
Tông đòi hỏi người học Đạo phải tìm Thiện-Tri-Thức như Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật viết:
(…)
Người niệm Phật phải biết cảm mộ ân đức cao dày của Chánh Pháp, phải luôn luôn báo đáp ân đức ấy
a) bằng cách đọc tụng kinh điển Đại-thừa và
b) giảng nói cho kẻ khác,
c) khuyên bảo mọi người quy y, bố thí, trì giới, thiền định.
d) khiến sao cho Chánh pháp được lưu hành rộng khắp nhân gian, ai nấy đều được hưởng dụng cam lồ vị.
Dù đã phát nguyện quy y Tam-Bảo, nhưng người trực tiếp khai sanh tánh mạng tuệ giác ở nơi ta, chính là Thiện-tri-thức, gồm có
a) Thánh Tăng,
b) phàm Tăng,
c) Sư trưởng và
d) các bạn đồng tu, đồng học.
i. Thiện-tri-thức là cửa ngõ xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì làm cho chúng sanh đi vào Như-Thật-Đạo.
ii. Thiện-tri-thức là cỗ xe xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì đưa tất cả chúng sanh tới Như-Lai địa.
iii. Thiện-tri-thức là thuyền bè xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì vận chuyển tất cả chúng sanh đến bờ giác.
iv. Thiện-tri-thức là ngọn đèn xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì khiến chúng sanh có được ánh sáng Phật Tri Kiến.
v. Thiện-tri-thức là con đường xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì dẫn dắt chúng sanh vào cửa thành Niết-bàn.
vi. Thiện-tri-thức là cây đuốc xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì làm cho chúng sanh thấy rõ con đường yên lành hay hiểm trở.
vii. Thiện-tri-thức là chiếc cầu xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì tiễn đưa chúng sanh qua khỏi chỗ hiểm ác.
viii. Thiện-tri-thức là lọng che xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì làm cho chúng sanh che núp dưới bóng râm đại từ mát mẻ.
ix. Thiện-tri-thức là cặp mắt xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì khiến chúng sanh nhận rõ Pháp tánh.
x. Thiện-tri-thức là thủy triều xu hướng Nhứt-thiết Trí, vì làm cho chúng sanh đầy đủ nước Đại Bi.
Người tu không thỏa-mãn được những điều nầy mà muốn khi mạng-chung sanh thẳng về Cực-Lạc, e rằng khó mà thành-tựu. Ngay cả, ngày chết mà dự biết trước để được sanh về cõi Người cũng khó mà thực-hiện.
THIỀN-TÔNG CỦA ẤN-ĐỘ
______________________
Tông nầy đòi hỏi “tầm Sư học Đạo”, tương tợ như trên, nương vào Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng mà tìm cầu.
MẬT-TÔNG
_________
Tông nầy chia ra làm nhiều tầng bậc, nay lấy vài đoạn ngắn để nói cách phụng thờ bậc Thầy hay Thiện-Tri-Thức.
Người tu học theo Mật-Tông
1) phải thông-đạt lý-thú của Hiển-Giáo hay Bát-Nhã Thừa (Prajnaparamitayana),
2) phải có công phu tu tập Không Tam-Muội, Vô-Tướng Tam-Muội hay Nguyệt-Luân Tam-Muội, và
3) Niệm Phật Tam Muội.
4) Gần gũi, tùy thuận và tu-tập dưới chân của bậc Kim-cang A-xà-lê đúng nghĩa mà Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng hay Kinh Hoa-Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp-Giới.
5) Nhận Thệ Thủy
6) Tiếp Chuông Chày Kim-Cang sau khi đã được chỉ dạy ý nghĩa vi-diệu.
7) Mật danh tùy theo căn-cơ tánh dục hay sự cầu Đạo mà đặt tên.
8) V.v…
Ở đây, chỉ nói về THỆ THỦY. Thệ Thủy không thể thiếu trong Mật Tông, vì đó là lời thề-nguyền bỏ thế-gian pháp (ngã và ngã-sở) trong Mandala, dấn thân tu tập theo pháp xuất-thế-gian thậm thâm, khó nghĩ bàn. Chư Tôn chứng-minh cho lời thề nầy.
Thệ thủy không hề có trong Hiển-Giáo.
Đỉnh cao của ĐẠI-THỪA là Kinh Hoa-Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp-Giới tán-thán Thiện-Tri-Thức và nêu ra các phẩm chất đặc-thù của từng vị Thiện-Tri-Thức.
Vì lý do nầy, nếu ai không Tịnh được Ý-Nghiệp thì quyết không thể gặp các bậc chân Thiện-Tri-Thức.
Trong thời buổi nhiễu-nhương và kim-tiền ngự-trị trong tâm-khảm loài người thì các bậc Thầy tu chứng thường có nếp sống ẩn-dật và là hàng Cư-Sĩ nghèo. Vì sao? – Vì đó là pháp thường (như thị) của chư vị vào thời Đấu-Tranh Kiên-Cố. (Hevajra Tantra, Guhyasamaja Tantra, nói rõ, đây không tiết lộ. Xem 50 Bài Kệ Về Bậc Đạo-Sư)
Ngài Trưởng-giả Diệu Nguyệt trong Kinh Bồ-Tát Niệm Phật Ba-La-Mật há chẳng từng nói: “Nhưng, các chúng sanh vào thời kỳ Chánh pháp diệt tận, thì
a) các căn lành cạn mỏng,
b) phước đức thiếu kém,
c) tri kiến bị si mê che lấp,
d) kinh điển tuy còn sót ít nhiều,
e) nhưng chẳng có ai hiểu đúng lời Phật dạy.
Do đó, làm sao tin nhận giáo nghĩa uyên áo, bí-mật nầy để thẳng bước tiến tu, mau thành Phật-Trí?
SAO GẦN GŨI ĐƯỢC CHƯ THIỆN-TRI-THỨC?
Tôn Kinh Hoa-Nghiêm đưa ra một thí dụ, xem đoạn Thích-Nữ Cù-Ba.
(…)
Bấy giờ, có La-Sát Quỷ-Vương thủ-hộ pháp-đường của Bồ-Tát, tên là Thiện-Nhãn, cùng quyến thuộc 10.000 La-Sát câu hội, ở không trung dùng những hoa đẹp rải trên mình Thiện-Tài mà nói rằng: “Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành-tựu mười pháp thời được thân-cận chư Thiện-Tri-Thức.
Đây là 10 pháp:
1) Tâm thanh-tịnh rời những dua bợ phỉnh dối.
2) Đại-bi bình-đẳng nhiếp khắp chúng-sanh, biết các chúng-sanh
không có thiệt.
3) Xu hướng Nhứt-thiết Trí tâm không thối chuyển.
4) Dùng sức tín-giải vào khắp tất-cả Phật đạo tràng.
5) Được tịnh-huệ-nhãn rõ các Pháp-tánh.
6) Đại-từ bình-đẳng che chở khắp chúng-sanh.
7) Dùng trí quang-minh chiếu rỗng những vọng cảnh.
8) Dùng mưa cam-lộ xối sanh tử nóng.
9) Dùng mắt quảng đại soi suốt các pháp.
10) Tâm thường tùy thuận chư Thiện-Tri-Thức.
Lại nầy, Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành-tựu 10 môn Tam-muội thời thường hiện thấy chư Thiện-Tri-Thức.
Đây là 10 môn tam-muội:
1) THANH-TỊNH LUÂN PHÁP-KHÔNG TAM-MUỘI.
2) QUÁN-SÁT THẬP PHƯƠNG HẢI TAM MUỘI.
3) NƠI TẤT-CẢ CẢNH-GIỚI CHẲNG RỜI BỎ CHẲNG TỔN GIẢM TAM-MUỘI.
4) THẤY KHẮP TẤT-CẢ PHẬT XUẤT-THẾ TAM-MUỘI.
5) NHÓM TẤT-CẢ TẠNG CÔNG-ĐỨC TAM-MUỘI.
6) TÂM HẰNG CHẲNG BỎ THIỆN-TRI-THỨC TAM-MUỘI.
7) THƯỜNG THẤY TẤT-CẢ THIỆN-TRI-THỨC SANH
8) PHẬT CÔNG-ĐỨC TAM-MUỘI.
9) THƯỜNG CHẲNG RỜI TẤT-CẢ THIỆN-TRI-THỨC TAM-MUỘI.
10) THƯỜNG CÚNG-DƯỜNG TẤT-CẢ THIỆN-TRI-THỨC TAM-
MUỘI.
11) THƯỜNG KHÔNG LỖI LẦM Ở CHỖ TẤT-CẢ THIỆN-TRI-THỨC
TAM-MUỘI.
Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành-tựu 10 môn Tam-muội nầy thời thường được thân-cận chư Thiện-Tri-Thức.
Lại được môn tam-muội Thiện-Tri-Thức chuyển tất-cả Phật-pháp-luân. Được môn tam-muội nầy rồi thời đều biết chư Phật thể tánh bình-đẳng, gặp Thiện-Tri-Thức mọi nơi.
Thiện-Tài ngước nhìn không-trung mà thưa rằng: “Lành thay, lành thay! Ngài vì thương xót nhiếp thọ tôi mà phương-tiện dạy cho tôi pháp thấy Thiện-Tri-Thức.”
Xin ngài vì tôi mà chỉ bảo: “Thế nào đến chỗ Thiện-Tri-Thức? Tìm Thiện-Tri-Thức ở chỗ nào?”
La-Sát-Vương nói: “Nầy Thiện-nam-tử! Ngươi
1) Nên đảnh lễ khắp mười phương để cầu Thiện-Tri-Thức.
2) Nên chánh-niệm tư-duy tất-cả cảnh-giới để cầu Thiện-Thi-Thức.
3) Nên dũng-mãnh tự-tại du hành khắp mười phương để cầu Thiện-Tri-Thức.
4) Nên quán thân, quán tâm như mộng như ảnh để cầu Thiện-Tri-Thức.
Nàng Cù-Ba nói: “Lành thay! Lành Thay! Nầy Thiện-nam-tử! Nay ngươi có thể hỏi những việc làm của Đại Bồ-Tát như vậy. Người tu-tập những hạnh-nguyện Phổ-Hiền mới có thể hỏi như vậy.
Ngươi lắng nghe và khéo suy gẫm ghi nhớ. Ta sẽ thừa thần-lực của Phật mà nói cho ngươi.
Nầy Thiện-nam-tử! Nếu các Bồ-Tát thành-tựu 10 pháp thời có thể viên-mãn hạnh Bồ-Tát nhơn đà-la-võng phổ-trí quang-minh. Đây là 10 pháp:
1) Vì nương Thiện-Tri-Thức.
2) Vì được thắng-giải quảng đại.
3) Vì được dục-lạc thanh-tịnh.
4) Vì nhóm tất-cả phước-trí.
5) Vì nghe chánh-pháp nơi chư Phật.
6) Vì tâm hằng chẳng bỏ tam thế Phật.
7) Vì đồng với tất-cả Bồ-Tát hạnh.
8) Vì được tất-cả Như-Lai hộ-niệm.
9) Vì đại bi diệu-nguyện đều thanh-tịnh.
10) Vì có thể dùng trí-lực khắp dứt tất-cả những sanh tử.
Nầy Thiện-nam-tử! Nếu thân-cận Thiện-Trí-Thức thời Bồ-Tát có thể tinh-tấn bất thối tu-tập xuất sanh vô-tận Phật-pháp
Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát dùng mười pháp để thừa sự Thiện-Tri-Thức. Đây là mười pháp:
1) không đoái tiếc thân mạng mình.
2) Lòng chẳng tham cầu sự vui thế-gian.
3) Biết tất-cả pháp-tánh đều bình-đẳng.
4) Trọn chẳng lui bỏ nguyện Nhứt-thiết Trí.
5) Quán sát thiệt-tướng pháp giới.
6) Tâm hằng bỏ rời tất-cả biển hữu-lậu.
7) Biết pháp như không, tâm không chỗ nương.
8) Thành-tựu tất-cả đại-nguyện bồ-tát.
9) Thường có thể thị-hiện tất-cả sát-hải.
10) Tịnh tu trí-luận vô-ngại của Bồ-Tát.
Nầy Thiện-nam-tử! Nên dùng pháp nầy để kính thờ tất-cả Thiện-Tri-Thức KHÔNG TRÁI NGHỊCH.
— # —
Vì lý do nầy, những kẻ phước bạc, trí kém, huệ mỏng, chướng nhiều, tội lắm, lỗi nặng QUYẾT KHÔNG GẶP ĐƯỢC các bậc chân Thiện-Tri-Thức. Cho dù họ có gặp thì khi chướng-duyên nổi lên, hoặc bị ác quỷ thần ám nhập tim gan, khống-chế, liền khinh-bạc, xa lìa Thiện-Tri-Thức và buông bỏ Chánh-Pháp của Như-Lai. Những người nầy thật đáng thương xót!
TRONG ĐÓ PHẢI NÓI LÀ NGÀI THIỆN-TÀI (SUDHANA)
Thiện Tài Đồng Tử là một Phật-tử đúng nghĩa với danh xưng, được nói đến trong Kinh Hoa-Nghiêm (Avatamsaka Sutra). Tên ngài là Sudhana có nghĩa là “Thiện Tài” và lý do ngài có tên nầy là vì lúc vừa mới sanh ra, đột nhiên châu báu xuất hiện trong nhà. Ngài là nhân vật chính trong chương cuối cùng và cũng là chương dài nhất trong Kinh Hoa Nghiêm.
Trong khi tìm cầu giác ngộ, ngài Thiện-Tài đã được chư Thiện-Tri-Thức trao tay truyền dạy.
Ngài được đức Văn-Thù-Sư-Lợi, bậc Đại Trí, Tam Thế Giác-Mẫu, khai phát Bồ-Đề-Tâm và thẳng tu.
Nếu lúc ban sơ phát tâm tu-tập mà không có trí-tuệ dẫn dắt mà chỉ có lòng tin thì sự tu tập ba trồi chín sụt.
Ngài Thiện-Tài viếng thăm và tòng học với 53 vị Thiện-Tri-Thức và đã trở thành bậc Đẳng-Giác ngay trong một đời, hay bậc chứng nhập Pháp-giới.
Vì vậy, người tu-tập nếu rời bậc Thầy chân-chánh hay các bậc Thiện Tri-Thức (mà Thầy mình chỉ dẫn), hay xa lìa phương-tiện thiện-xảo (bất cứ hành vi nào mà có trí-tuệ dẫn đường) của Thầy thì đường tu chỉ luống uổng tháng năm. Nhân lành tuy có mà ác nghiệp khó bạc trừ, tập-khí ám-độn khó vượt qua!
— hết 2/15/2020 —
Nguồn FB: Pram Nguyen
https://www.facebook.com/pram.nguyen.7/posts/119638972950346
Tham khảo thêm: PHỤNG THỜ THIỆN-TRI-THỨC HẠNH CỦA BỒ-TÁT
NHỮNG LỖI LẦM KHI PHỤNG THỜ THIỆN TRI THỨC
(Lược nói những lỗi lầm của chính Karma và được Ngài Pram Nguyen khai thị. Không phải đăng đàn giảng pháp.
Xem lại ở bài: NỔI NIỀM CỦA NGƯỜI MUỐN TU NHƯNG KHÔNG BIẾT CHỌN THẦY, BẠN VÀ PHÁP TU
TRÍCH:
MỘNG LẦN 1: là lúc Ngài đăng lên để mọi người hỷ cúng tịnh tài cho cà sa của vị Tỳ Kheo, tối đó con cứ trăn trở phải dâng lên cho kỳ được để làm vui lòng Ngài nhưng tiền của không còn nhiều, con đành nhường lại và tuỳ hỷ cho những người khác. Tối đó con mộng dâng hết số tiền lên cho vị Tỳ Kheo thông qua Ngài với lời nguyện: “một chút tiền bạc này không thấm vào đâu nhưng miễn sao được vui lòng Ngài”, sau đó Ngài đòi tiền nhiều hơn, con khởi nghi ngờ, và dập tắt ngay sau đó, “vật chất là vô giá trị với bậc Đại Sĩ”.
TRẢ LỜI # 1: Đâu đó trong tâm khảm con có chỗ NGHI NGỜ Chú về tiền bạc.
MỘNG LẦN 2: con lại gặp Ngài và đảnh lễ, tự nhiên thấy mình ở trong phòng vệ sinh và bị Ngài ném những thứ ô-uế vào người. Nhưng con lại nghĩ: sạch-dơ chỉ do tâm tưởng tạo ra, mình coi là dơ những đối với vật khác đâu có coi là thế. Con vẫn an nhiên nhẫn chịu.
TRẢ LỜI # 2: Con bị ném những thứ ô-uế vào người vì con khởi lòng bất kính, nghi ngờ ta tham lam tiền bạc. Rồi thức tâm của con lần thứ hai biện minh cho hành vi sai trái của mình.
MỘNG LẦN 3: Thưa Chú @Pram Nguyễn.
Trước con xin đảnh lễ Người vì đã truyền cho con Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới.
Con đã khởi tín-lạc khi đọc Phẩm nầy mặc dù chỉ mới đọc qua chút phần.
Tối nay con có giấc mộng về Người. Người bảo rằng đã từng dạy con nhiều kiếp về trước nhưng vì dục-tình càn rở cuốn xoay nên con đã quên mất bổn nguyện.
Ngài nói nhiều kiếp về trước con đã từng hống hách đánh đập người khác nên hôm nay con mới bị nạn gãy tay này.
Sau khi chứng kiến cảnh đó con đã tự oán trách và khóc rất nhiều.
Con chưa biết thực hư ra sao, nhưng con có đôi lời muốn tâm sự với Chú và các anh ạ.
TRẢ LỜI # 3: Vì la rầy con sanh oán hận, Đến đời nầy vẫn không thay đổi. THÂN TRONG MỘNG đã tố cáo.
https://www.facebook.com/karma.vo.10?comment_id=Y29tbWVudDoxMjQ5MzcwNzkwODcyMDJfMTI2NzUwMDA4OTA1OTA5
Pram Nguyen Karma Vo khen cho con biết lỗi đối với người ban giáo pháp của Như Lai đem trình lên công chúng đây là Bố Tát cao cả; cũng như người nhiễm Covid-19 phải nói cho mọi người biết không phải để khinh miệt mà cẩn thận. Karma Vo con đang dấn bước trên Bồ Tát Đạo.
Karma Vo Pram Nguyen con vừa mơ thấy trăng và Ngài chú nguyện cho con rằng con đang từ cõi dưới đi lên
Pram Nguyen Karma Vo Một lời sám hối uy lực vô song! Có người vì chủ nhân, vì lợi ích quì lạy khóc lóc, van xin người ta ban ân, nhưng không dám phô bày cái xấu của mình ra để mọi người biết mà né tránh! Âu cũng là một việc mà phiền não và giải thoát khác nhau như trời với vực.
Karma Vo Pram Nguyen dạ vâng! vì con không muốn làm một thằng hèn
Pram Nguyen Karma Vo Con ơi! Cái ngã con nằm ngay đây! “vì con không muốn làm một thằng hèn”, chạm vào tự ái một chút đã vậy rồi!
Karma Vo Pram Nguyen Mọi hành động phải được xuất phát lòng vì từ bi chứ không phải vì để chứng minh cái bản ngã xảo quyệt của con phải không, thưa Ngài. Nguyện con luôn gần kề Ngài để Ngài dằn cái Ngã của con xuống!
Lan Thu Karma Vo cái Ngã của mình cũng như Núi Chúa … :'(((, tùy hỷ với việc lành của bạn.
>>> Bài viết hay? - Nếu bạn thấy bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích, xin bạn ủng hộ mình 1 ít donate với nhé! Mình sẽ rất vui khi được bạn ủng hộ để ngày càng có động lực phát triển website, đem lại nhiều bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích để phục vụ bạn đọc miễn phí! Thank you! _()_ >>> Link donate/ủng hộ ở đây ạ: https://ohay.io.vn/donate-cafe/




































